Trong buổi điện đàm, ngoài các vấn đề liên quan đến tác động của dịch COVID-19 lên nền kinh tế Việt Nam gồm có dự báo tăng trưởng, khu vực du lịch, thị trường lao động việc làm, thời lượng lớn buổi làm việc tập trung vào lĩnh vực quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).
Chia sẻ với S&P về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam, NHNN cho biết theo kịch bản dịch kết thúc trong Quý II/2020, khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là khu vực dịch vụ gồm có giao thông vận tải, du lịch, bán buôn bán lẻ, theo đó dự báo tốc độ tăng trưởng GDP là 3,5%-4,5%. Theo kịch bản dịch diễn biến phức tạp hơn, tốc độ tăng GDP sẽ phụ thuộc vào chiều hướng dịch bệnh, được dự báo khoảng 2,5%-3%. Lợi thế của Việt Nam là có khả năng thoát khỏi dịch bệnh sớm hơn nên có động lực để tăng trưởng và hồi phục sớm hơn. Trả lời câu hỏi của S&P nếu theo kịch bản đầu tiên thì khu vực nào sẽ hồi phục nhanh hơn, NHNN cho rằng tổng cầu trong nước sẽ nhanh chóng hồi phục nếu dịch bệnh được kiểm soát tốt. Ngành nông nghiệp trong Quý 1 gặp khó khăn nhất định do biến đổi khí hậu sẽ phục hồi trong Quý II. Hoạt động của doanh nghiệp FDI trong khu vực sản xuất sẽ tiếp tục đóng góp cho tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới.
Đối với nội dung hệ thống ngân hàng và chính sách tiền tệ-tín dụng, chia sẻ với S&P về tình hình lạm phát, NHNN cho biết lạm phát 03 tháng đầu năm có xu hướng giảm dần do tác động giảm mạnh của giá dầu. Theo dự báo của NHNN, lạm phát năm 2020 dự kiến dưới 4%, tương đồng với dự báo của tổ chức IMF. Về cán cân thanh toán, trong 3 tháng đầu năm 2020 cán cân thương mại – một cấu phần của cán cân thanh toán chưa bị ảnh hưởng nhiều, đạt 3,7 tỷ USD (theo giá FOB), đóng góp vào mức 6,2 tỷ USD của cán cân thanh toán.
Về quy mô dự trữ ngoại hối, đến cuối tháng 2 đạt hơn 81 tỷ USD, NHNN chưa phải bán ngoại tệ để can thiệp nên quy mô dự trữ ngoại hối vẫn ổn định trong tháng 3, tháng 4.
Về tỷ giá hối đoái, từ năm 2015, Việt Nam chuyển từ tỷ giá bình quân liên ngân hàng sang tỷ giá trung tâm. Trước năm 2016, tỷ giá bình quân niêm yết được quản lý chặt chẽ, gắn chặt với đồng USD. Việc chuyển sang tỷ giá trung tâm khiến việc điều hành linh hoạt hơn thông qua việc gắn tỷ giá đồng VND với tỷ giá đồng tiền của 8 quốc gia có quan hệ đầu tư thương mại với Việt Nam. Điểm thuận lợi ở đây là 8 đồng tiền này có độ biến động với đồng USD tương đối hẹp. Từ 2019, qua theo dõi cung cầu thị trường với các giao dịch ngoại tệ, NHNN nhận thấy khối lượng giao dịch trung bình ngày là 2,5-3 tỷ USD. Bất chấp dịch COVID-19, doanh số giao dịch vẫn không có biến động đáng kể. Kết hợp với các chỉ số vĩ mô liên quan đến cung cầu thị trường như FDI, đầu tư gián tiếp, và kiều hối, có thể nói rằng thị trường ngoại hối Việt Nam có khả năng chống đỡ trước cú sốc lớn của thị trường toàn cầu. Chính phủ Việt Nam có đủ công cụ, dư địa để đảm bảo biến động tỷ giá được duy trì ổn định
Liên quan đến quan tâm cúa S&P về việc tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) theo chuẩn Basel 2 được dời thời điểm thực hiện từ 01/01/2020 đến tận năm 2023 khi một số ngân hàng chưa thể tuân thủ quy định này, đại diện NHNN cho biết đến nay đã có 18 ngân hàng thương mại áp dụng thành công BASEL II theo phương pháp tiêu chuẩn và cao hơn. Nhiều ngân hàng không thể áp dụng được do khó khăn về vốn, trong đó có một số ngân hàng yếu kém phải tái cơ cấu. Đối với các ngân hàng này, NHNN có chỉ thị phải áp dụng BASEL II chậm nhất trong năm 2022.
Về tình hình cơ cấu nợ, giảm lãi vay trong bối cảnh COVID-19, NHNN cho biết đã ban hành Thông tư số 01 có hiệu lực từ ngày 13/3/2020 quy định cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng. NHNN đã yêu cầu các ngân hàng thương mại công khai danh sách các đối tượng áp dụng, xử lý các trường hợp gây khó khăn chậm trễ. Đến thời điểm làm việc, tổng dư nợ được tái cơ cấu, giảm lãi suất là trên 156 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,9% tổng dư nợ tín dụng.
Về tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, đến cuối 2019 nợ xấu ngoại bảng được kiểm soát ở mức dưới 3%. Quy mô tổng tài sản tiếp tục tăng nhẹ so với đầu năm 2019. Nợ xấu nội bảng, nợ bán VAMC, nợ tiềm ẩn thành nợ xấu ở mức 4,15% vào tháng 2/2020, giảm so với mức 4,43% năm 2019, 10,08% năm 2016, 7,36% năm 2017 và 5,85% năm 2018.
Chia sẻ với S&P về quản lý tài sản - nợ trong hệ thống ngân hàng, NHNN đã nhìn thấy vấn đề này và đã có lộ trình cụ thể triển khai các tỷ lệ tài trợ vốn cho đến năm 2022, cụ thể như sau: giảm lãi suất chính sách, điều chỉnh chính sách lãi suất thương mại áp dụng với khách hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại giảm chi phí huy động; triển khai các giải pháp cung ứng thanh toán trên thị trường mở, giảm lãi suất tái cấp vốn xuống 4%... Nhờ đó, thanh khoản của tổ chức tín dụng nằm trong tầm kiểm soát.
Kết thúc buổi điện đàm, tổ chức S&P đánh giá Việc Nam vẫn có nhiều điểm sáng xét về triển vọng trong tăng trưởng, thu hút nguồn vốn FDI và các chỉ tiêu tín dụng của Việt Nam vẫn ổn định trong trung dài hạn. Kết quả của đợt làm việc này sẽ được công bố sau khi S&P hoàn tất họp Uỷ ban đánh giá xếp hạng tín nhiệm Chính phủ trong khoảng 2 tuần nữa./.