Thay mặt Bộ Tài chính, ông Trương Hùng Long- Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại đọc báo cáo tham luận tại Hội nghị, theo đó:
I. Bối cảnh và cơ chế chính sách, các giải pháp vĩ mô đã thực hiện:
1. Năm 2021 là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025. Đến nay, kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025 vẫn đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương rà soát tổng hợp để trình Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt.
2. Đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cả nước, các dự án sử dụng vốn vay ODA và vay ưu đãi thậm chí còn chịu nhiều tác động nặng nề hơn từ đại dịch này.
3. Tại Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 16/4/2021 của Chính phủ về phiên họp triển khai công việc của Chính phủ sau khi được kiện toàn tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV, Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo về thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công:
“Đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân đầu tư công là một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, đồng thời tạo ra năng lực sản xuất mới, thu hút đầu tư phục vụ phát triển kinh tế- xã hội. Chính phủ yêu cầu người đứng đầu các Bộ, cơ quan, địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp và toàn diện về việc thực hiện và giải ngân đầu tư công theo kế hoạch”.
Nghị quyết tại các phiên họp thường kỳ của Chính phủ đều nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề giải ngân vốn đầu tư công và tháo gỡ khó khăn cho giải ngân vốn đầu tư công.
4. Trong thời gian qua, Bộ Tài chính luôn coi công tác giải ngân vốn đầu tư công trong và ngoài nước là một nhiệm vụ trọng tâm, góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới.
Để triển khai nhiệm vụ này, đồng chí Bộ trưởng đã chỉ đạo toàn ngành tài chính thực hiện đồng bộ các biện pháp để đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn đầu tư công, bao gồm cả vốn vay nước ngoài, trong đó:
4.1. Chỉ trong Quý I/2021, Bộ Tài chính đã có các công văn số 995/BTC-ĐT ngày 28/01/2021 và số 2228/BTC-QLN ngày 08/3/2021 đôn đốc các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phân bổ, nhập Tabmis dự toán vốn đầu tư nguồn nước ngoài và triển khai giải ngân năm 2021; đồng thời, Bộ tài chính đã có 2 công văn đôn đốc các Ban quản lý dự án được giao kế hoạch vốn lớn của các Bộ, ngành có báo cáo số kế hoạch vốn phân khai và nhập Tabmis, số giải ngân và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư công nguồn vốn nước ngoài.
4.2. Trong bối cảnh tốc độ giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi 5 tháng đầu năm của các Bộ, ngành địa phương là rất chậm (2,8% kế hoạch vốn được giao), Bộ trưởng Bộ Tài chính đã có công văn số 5390/BTC-QLN ngày 24/5/2021 gửi trực tiếp tới các đồng chí Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đề nghị chỉ đạo các Chủ dự án trực thuộc khẩn trương rà soát, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn vay nước ngoài thuộc kế hoạch vốn 2021.
4.3. Bộ Tài chính đã cùng với các Bộ, ngành, các chủ dự án bám sát tình hình giải ngân vốn đầu tư công nguồn nước ngoài; tổ chức họp với các Ban quản lý dự án của các Bộ sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi với quy mô vốn lớn như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Giáo dục và đào tạo, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam và Bộ Y tế để tìm hiểu và tháo gỡ khó khăn, góp phần đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án.
II. Về tình hình giao và phân bổ kế hoạch vốn 2021
1. Về giao kế hoạch vốn năm 2021
Tổng dự toán vốn nước ngoài được giao từ nguồn ngân sách trung ương theo Quyết định số 2185/QĐ-TTg ngày 21/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2021 cho các Bộ, ngành là 16.636,75 tỷ đồng.
2. Về tình hình phân bổ, nhập Tabmis kế hoạch vốn 2021
- Theo số liệu trên hệ thống Tabmis, tính đến hết ngày 31/5/2021, tỷ lệ nhập dự toán trên Tabmis chi tiết theo dự án so với kế hoạch vốn nước ngoài được giao của các Bộ, ngành đạt 72,55% (12.069,87 tỷ đồng).
- 4/13 Bộ đã nhập và phân bổ 100% dự toán vốn vay nước ngoài trên Tabmis (Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa thể thao và du lịch, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam); 4/13 Bộ, ngành đã nhập và phân bổ trên 60% dự toán (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Lao động thương binh và xã hội); 1/13 Bộ nhập và phân bổ dưới 40% dự toán (Bộ Y tế); đặc biệt có 4/13 Bộ, ngành chưa nhập Tabmis (Bộ Quốc phòng, Bộ Công Thương, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. HCM).
Nhận xét:
- Tình hình nhập và phân bổ dự toán vốn vay nước ngoài trên hệ thống Tabmis đến nay đã có nhiều cải thiện so với cuối Quý I/2021. Cụ thể tỷ lệ nhập Tabmis đến 31/3/2021 mới đạt 51,85% nhưng sau 2 tháng đã tăng thêm hơn 20% (đạt 72,55%), đặc biệt là sau khi có các văn bản đôn đốc từ Bộ Tài chính và sau khi có các giải pháp rà soát, chỉ đạo sát sao từ các cơ quan chủ quản.
- Số còn lại chưa phân bổ, chủ yếu do chưa đủ điều kiện để phân bổ, thậm chí có dự án đã hoàn thành thủ tục đàm phán nhưng chưa thể ký kết hiệp định vay do chưa hoàn thành thủ tục đầu tư (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. HCM).
- Một số dự án đã phân bổ nhưng đang được rà soát lại về tính khả thi trong triển khai, không có khả năng giải ngân, có thể sẽ phải cắt giảm dự toán được giao (Bộ Công Thương, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Nội dung này xin được trình bày trong phần giải ngân dưới đây.
III. Về tình hình thực hiện kế hoạch vốn
1. Giải ngân kế hoạch vốn 2021:
Tính đến hết ngày 10/6/2021, số liệu giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021 nguồn nước ngoài của các Bộ, ngành là 1.253 tỷ đồng, đạt 7,53% so với dự toán được giao.
Mặc dù đã có 5/13 Bộ, ngành là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Giáo dục và đào tạo và Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam có giải ngân nhưng số giải ngân tập trung chủ yếu ở 2 Bộ là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (18,59%), Bộ Giao thông vận tải (14,46%). 3 Bộ còn lại có số giải ngân rất ít, Bộ Tài nguyên và môi trường (2,24%), Bộ Giáo dục và đào tạo (1,21%), Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam (0,81%).
Đáng lưu ý, có đến 8/13 Bộ, ngành đến nay vẫn chưa giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn nước ngoài năm 2021.
2. Giải ngân kế hoạch vốn 2020: Hiện, các Bộ, ngành vẫn giải ngân vốn đầu tư công nguồn vay nước ngoài theo kế hoạch vốn 2020.
Từ 1/1/2021 đến 10/6/2021, tổng số giải ngân theo kế hoạch vốn 2020 của các Bộ, ngành là 2.187,7 tỷ đồng (gồm cả số giải ngân hoàn chứng từ từ TKĐB cho phần vốn đã được bố trí trong kế hoạch đầu tư công hàng năm và đã được Chính phủ Việt Nam nhận nợ, được thực hiện theo quy định của khoản 5 Điều 101 của Luật Đầu tư công 39, áp dụng đối với kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019 và năm 2020), gần gấp đôi số giải ngân theo kế hoạch vốn 2021.
3. Nhận xét:
- Tỷ lệ giải ngân là rất chậm, đòi hỏi các Bộ, ngành và các chủ dự án cần triển khai các biện pháp quyết liệt hơn nữa để hoàn thành được nhiệm vụ giải ngân.
- Mặc dù số lượng các dự án/tiểu dự án thuộc kế hoạch vốn của 13 Bộ, ngành là khoảng 72 dự án/ tiểu dự án nhưng mới chỉ có 22/72 dự án/tiểu dự án đã giải ngân.
Trong số các dự án/ tiểu dự án đã được giao dự toán nhưng chậm hoặc chưa giải ngân, có
+ 2 dự án đang điều chỉnh chủ trương đầu tư, 1 vừa mới hoàn thành điều chỉnh chủ trương đầu tư
+ 7 dự án vừa hoàn thành thủ tục điều chỉnh hiệp định vay, 2 dự án vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, đang trao đổi với nhà tài trợ
+ 18 dự án/ tiểu dự án chậm tiến độ ở tất cả các khâu thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, xây dựng và phê duyệt tổng mức đầu tư, đấu thầu, phê duyệt hợp đồng và chưa có khối lượng
+ 5 dự án/ tiểu dự án có khối lượng nhưng chưa thể thanh toán được
- Tỷ lệ giải ngân (7,53% kế hoạch) cũng đã bám sát tỷ lệ kiểm soát chi (8,32% kế hoạch) tại 5 Bộ ngành có giải ngân.
- Tính đến hết 10/6/2021, Bộ Tài chính mới chỉ nhận được 129 công văn đề nghị rút vốn, đã xử lý 129 đơn rút vốn với thời gian xử lý đơn rút vốn bình quân là 1,5 ngày.
- Tỷ lệ giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài đến hết 10/6/2021 của các Bộ, ngành đạt khoảng 7,53% kế hoạch vốn được giao, là gần như tương ứng với cùng kỳ năm 2020 (7,2%). Tuy nhiên, nếu so với kết quả giải ngân của nguồn vốn đầu tư công trong nước của các Bộ, ngành thì tỷ lệ giải ngân vốn nước ngoài là rất thấp (tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong nước của các Bộ, ngành kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước đạt khoảng 28,86% kế hoạch). Đặc biệt qua rà soát, Bộ Tài chính nhận thấy có 1 khối lượng lớn kế hoạch vốn là khó có thể được giải ngân do vướng mắc về thủ tục đầu tư và quá trình triển khai dự án.
IV. Nguyên nhân giải ngân vốn đầu tư công nguồn vay nước ngoài chậm:
Từ quá trình theo dõi, đánh giá công tác giải ngân và làm việc sơ bộ của Bộ Tài chính với các Bộ, ngành có thể thấy một số nguyên nhân sau đây ảnh hưởng đến kết quả giải ngân của các dự án:
1. Dự án chưa hoàn thành thủ tục đầu tư, thậm chí chưa hoàn thành thủ tục đàm phán hoặc chưa ký hiệp định vay nhưng đã được bố trí vốn, (dự án của Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. HCM, Dự án Trung tâm Vũ trụ (khoản vay 2)); dự án đã đề xuất dừng triển khai nhưng vẫn được bố trí dự toán, sẽ phải hủy dự toán (Dự án Nâng cao chất lượng giáo dục đại học - Dự án thành phần Trường Đại học Công nghiệp TP. HCM của Bộ Công Thương vay vốn WB).
2. Dự án đã được bố trí vốn, đã hoàn thành thủ tục đầu tư nhưng chậm triển khai các công tác sẵn sàng cho đầu tư như chậm giải phóng mặt bằng, tái định cư (dự án Tăng cường kết nối giao thông khu vực Tây Nguyên của Bộ Giao thông vận tải vay vốn WB); chưa hoàn tất thiết kế cơ sở (dự án Kết nối giao thông các tỉnh miền núi phía Bắc của Bộ Giao thông vận tải vay vốn ADB, dự án Tăng cường kết nối giao thông khu vực Tây Nguyên của Bộ Giao thông vận tải vay vốn WB).
3. Dự án có vướng mắc trong khâu đấu thầu (Dự án Xây dựng trường Đại học Dược Hà Nội ngang tầm khu vực vay vốn Hàn Quốc), chưa phê duyệt hợp đồng (dự án Kết nối giao thông các tỉnh miền núi phía Bắc của Bộ Giao thông vận tải vay vốn ADB, dự án Tăng cường kết nối giao thông khu vực Tây Nguyên của Bộ Giao thông vận tải vay vốn WB, Dự án Đại học Khoa học và Công nghệ của Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam vay vốn ADB); vướng mắc với tổng thầu (Dự án Đường sắt Cát Linh - Hà Đông); với nhà tài trợ về phạm vi các gói thầu (Dự án Tăng cường quản lý cơ sở dữ liệu đất đai vay WB) nên chưa thể triển khai.
4. Dự án có khối lượng hoàn thành nhưng do khó khăn về xác nhận khối lượng hoàn thành với nhà thầu nên chưa thể hoàn thành được các chứng từ để thực hiện các thủ tục rút vốn (dự án sử dụng vốn vay Ấn Độ của Bộ Quốc phòng), hoặc đã có khối lượng, nhưng hồ sơ nghiệm thu khối lượng còn chưa thống nhất, còn phải rà soát (dự án Khôi phục và nâng cao hệ thống thủy lợi Bắc Nghệ An vay vốn JICA, Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch hỗ trợ tăng trưởng toàn diện tiểu vùng Mê-kông mở rộng vay vốn ADB, Tiểu dự án sửa chữa, nâng cao hồ chứa nước Dầu Tiếng vay vốn WB, Dự án Quản lý rừng bền vững và đa dạng sinh học nhằm giảm phát thải CO2 vay vốn KfW), chậm hoàn chứng từ về TKĐB (Dự án Hiện đại hóa ngành lâm nghiệp và tăng cường tính chống chịu ven biển vay vốn WB, Dự án Đầu tư xây dựng thông tin dữ liệu vùng ĐBSCL tích hợp dữ liệu tài nguyên môi trường vay vốn WB, các tiểu dự án 1 và 2 của dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL của Bộ Tài nguyên và môi trường vay vốn WB).
5. Dự án thực hiện điều chỉnh chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, điều chỉnh hiệp định vay với các nội dung như gia hạn thời gian thực hiện, thời gian giải ngân, sử dụng vốn dư, điều chỉnh chủ đầu tư, điều chỉnh tỷ lệ thanh toán ngoại tệ/ nội tệ, điều chỉnh kinh phí giữa các hạng mục đã được quy định tại hiệp định vay (Dự án Chương trình Phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và đào tạo vay vốn WB, Dự án Quản lý tài sản đường bộ Việt Nam (VRAMP) của Bộ Giao thông vận tải vay vốn WB, dự án Nâng cao chất lượng giáo dục đại học (SAHEP) vay vốn WB, dự án Cảng cửa ngõ Quốc tế Hải Phòng của Bộ Giao thông vận tải vay vốn JICA, dự án Xây dựng tuyến Lộ Tẻ - Rạch Sỏi của Bộ Giao thông vận tải vay vốn Hàn Quốc, dự án Thành phần 1A thuộc dự án đầu tư xây dựng đoạn Tân Vạn - Nhơn Trạch vay vốn Hàn Quốc) cũng ảnh hưởng đến giải ngân.
6. Do tác động của đại dịch Covid-19 và lý do khách quan khác. Các dự án sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 do hầu hết các hoạt động đều gắn với yếu tố nước ngoài từ khâu nhập máy móc, thiết bị cho đến huy động chuyên gia, nhân công, nhà thầu nước ngoài, tư vấn giám sát, tư vấn xây dựng thiết kế kỹ thuật, thống nhất với nhà tài trợ đối với từng hoạt động và kế hoạch của dự án, giá cả một số hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu trên thị trường thế giới biến động mạnh,... nên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ thực hiện của phần lớn các dự án ODA.
7. Trong những tháng đầu năm 2021, các Bộ, ngành tập trung giải ngân tiếp dự toán đã được giao của năm 2020 và phần vốn được kéo dài, chuyển nguồn, song song với việc giải ngân kế hoạch vốn 2021. Số giải ngân kế hoạch vốn 2020 đạt 2.187,7 tỷ đồng, gần gấp đôi số giải ngân theo kế hoạch vốn 2021 cùng thời kỳ.
Thứ trưởng Trần Xuân Hà kết luận, bế mạc Hội nghị
Để đảm bảo phối hợp hoàn thành mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công năm 2021 theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành:
1. Kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành khẩn trương thực hiện các giải pháp trong phạm vi quản lý của mình và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, trong đó có nguồn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài.
2. Đối với các cơ quan chủ quản:
2.1. Rà soát phân bổ chi tiết dự toán đến từng dự án, đảm bảo sát tiến độ, nhu cầu giải ngân của dự án và kịp thời nhập vào hệ thống Tabmis để các dự án có thể cơ sở giải ngân. Trong đó cần tập trung vốn cho các dự án có tiến độ giải ngân tốt, các dự án ưu tiên cần sớm hoàn thành để đưa vào sử dụng và các dự án sắp hoàn thành, các dự án sắp hết thời hạn giải ngân theo quy định của Hiệp định. Trường hợp nhận thấy không đủ khả năng giải ngân, đề nghị hủy, chuyển dự toán cho dự án khác có tính sẵn sàng hơn. Căn cứ tiến độ thực tế, đề nghị các cơ quan chủ quản của dự án 2 trường Đại học quốc gia và dự án Trung tâm vũ trụ (khoản vay 2) rà soát, điều chỉnh phân bổ dự toán phù hợp.
Đối với các dự án đã được bố trí kế hoạch vốn từ năm trước nhưng không triển khai và tiếp tục được bố trí dự toán thì cần được đánh giá, kiên quyết thực hiện các biện pháp tập trung xử lý. Các Bộ cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ có chế tài xử lý và kiến nghị không giao kế hoạch vốn năm tiếp theo khi chưa khắc phục, giải quyết được các vướng mắc.
2.2. Thực hiện kiểm tra, rà soát, giám sát, đôn đốc thực hiện kế hoạch vốn của các chủ dự án, kịp thời tháo gỡ ngay vướng mắc, khó khăn trong triển khai dự án và giải ngân, chỉ đạo tập trung đẩy mạnh giải ngân các dự án đầu tư có tiềm năng giải ngân, các dự án đã hoàn tất các thủ tục đầu tư, công tác đấu thầu, phê duyệt hợp đồng.
2.3. Tăng cường năng lực tổ chức thực hiện dự án ODA ở cấp cơ quan chủ quản, chủ đầu tư và ban quản lý dự án, đảm bảo đội ngũ cán bộ quản lý dự án có năng lực, trình độ chuyên môn cao.
2.4. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư và các cơ quan liên quan để kịp thời trao đổi với nhà tài trợ trong trường hợp có vướng mắc phát sinh, đặc biệt là các dự án có thay đổi, cần thiết phải điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh hiệp định vay; thực hiện đầy đủ phần trách nhiệm của cơ quan chủ quản, khẩn trương gửi các đề xuất điều chỉnh đến Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính; phối hợp với các cơ quan đẩy nhanh tiến độ thực hiện các thủ tục để sớm báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh.
2.5. Báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các vướng mắc phát sinh, đặc biệt là các vướng mắc liên quan đến chế độ, chính sách nhằm đẩy nhanh tốc độ giải ngân các dự án. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tình hình giải ngân vốn ODA, gửi Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính theo đúng quy định.
3. Đối với các chủ dự án:
3.1. Tập trung triển khai các chương trình, dự án để kịp thời có khối lượng cho giải ngân. Chủ động điều phối, giám sát chặt chẽ công tác thực hiện dự án của các bên liên quan (tư vấn, nhà thầu) theo các nguồn vốn (vay, viện trợ đồng tài trợ, đối ứng), đảm bảo việc thực hiện thông suốt, kịp thời phát hiện các vướng mắc để xử lý hoặc báo cáo cơ quan chủ quản xử lý theo thẩm quyền.
3.2. Chủ Dự án cần tuyển chọn tư vấn đủ năng lực, kinh nghiệm thiết kế dự án, đảm bảo đạt chất lượng, phù hợp với thực tế và tránh phải điều chỉnh trong quá trình triển khai. Trường hợp tư vấn do phía nước ngoài thuê tuyển, lên kế hoạch giám sát chặt chẽ tiến độ, khối lượng, chất lượng công việc của tư vấn để có biện pháp xử lý ngay khi phát sinh vấn đề.
3.3. Gửi Kho bạc Nhà nước hồ sơ để làm thủ tục kiểm soát chi trong 4 ngày kể từ khi có khối lượng hoàn thành, phối hợp với Bộ Tài chính (Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại) trong việc giải ngân đối với các khối lượng đã được kiểm soát chi, không để tồn đọng, đặc biệt là các khoản hoàn chứng từ tài khoản đặc biệt.
3.4. Chủ động báo cáo cơ quan chủ quản và các Bộ, ngành liên quan về các vướng mắc phát sinh trong từng khâu thực hiện dự án để có biện pháp xử lý kịp thời.
4. Đối với các địa phương có dự án ODA của các Bộ, ngành triển khai: Xử lý các vấn đề vướng mắc liên quan đến giải phóng mặt bằng, tái định cư đảm bảo bàn giao mặt bằng sạch cho dự án đúng tiến độ.
5. Đối với các cơ quan tổng hợp:
5.1. Bộ Kế hoạch và đầu tư:
- Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 16/4/2021 của Chính phủ về phiên họp triển khai công việc của Chính phủ sau khi được kiện toàn tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV khẩn trương chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tổng kết, đánh giá công tác giải ngân vốn đầu tư công trong thời gian qua, xác định rõ những khó khăn vướng mắc, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm, đề xuất giải pháp đồng bộ, khả thi, hiệu quả để khắc phục, phấn đấu đạt tỷ lệ giải ngân cao nhất.
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành rà soát các dự án lâu không khắc phục được các vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân, các dự án khó có khả năng hoàn thành kế hoạch, dự kiến hủy một phần hoặc toàn bộ dự toán, và đã hủy năm trước, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ có chế tài xử lý và kiến nghị không giao kế hoạch vốn năm tiếp theo khi chưa khắc phục, giải quyết được các vướng mắc.
5.2. Bộ Tài chính:
- Tiếp tục phối hợp tháo gỡ khó khăn, quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công.
- Đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin hơn nữa trong giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi.
- Thực hiện các biện pháp tăng cường kiểm soát và rút ngắn thời gian hoàn chứng từ đối với hình thức thanh toán qua tài khoản đặc biệt.
- Tiếp tục hoàn thiện quá trình kiểm soát chi, xử lý đơn rút vốn tại Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước để đảm bảo đúng thời hạn quy định; không để tồn đọng hồ sơ mà không có lý do.
Tóm lại, để hoàn thành nhiệm vụ giải ngân năm 2021 đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ và quyết liệt của toàn thể hệ thống chính trị, của Chính phủ, Bộ, ngành và địa phương. Đối với các vấn đề phát sinh thuộc phạm vi trách nhiệm, Bộ Tài chính đã và sẽ tiếp tục chủ động phối hợp triển khai các biện pháp để giải quyết. Bộ Tài chính mong muốn các Bộ ngành với tư cách là cơ quan chủ quản cần theo dõi sát sao và chỉ đạo kịp thời các chủ dự án giải quyết các vướng mắc nhằm hoàn thành mục tiêu giải ngân năm 2021