Đoàn công tác của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng làm việc với Bộ NNPTNT nhằm thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2020

10:58 AM 18/09/2020 |  Lượt xem: 2234 |  In bài viết |    Đọc bài viết send email  Gửi góp ý

Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư giai đoạn 2016-2020, đặc biệt làm rõ tình hình thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công năm 2020. Cụ thể như sau:

          I. VỐN KẾ HOẠCH TRUNG HẠN 2016-2020.

          1. Kế hoạch vốn trung hạn 2016-2020 được giao.

          Tổng vốn giai đoạn 2016-2020 của Bộ được phân bổ là 70.018,4 tỷ đồng,  đã được Thủ tướng Chính phủ giao chi tiết cho các dự án là 69.921,4 tỷ đồng, vốn đã được giao đến hết năm 2020 là 62.012,8 tỷ đồng (bao gồm cả 10 % dự phòng), cụ thể:

TT

Nguồn

Số dự án

Vốn 2016-2020 được phân bổ

Vốn đã được TTgCP giao chi tiết

Lũy kế bố trí kế hoạch năm đến hết 2020

Vốn trong trung hạn chưa bố trí

1

Vốn NSTT

199

11.132,0

11.059,7

10.276,2

783,5

2

Vốn TPCP

49

36.800,0

36.775,9

30.580,0

6.195,9

3

Vốn ODA

40

22.085,8

22.085,8

21.156,6

929,2

 

Tổng cộng

288

70.018,4

69.921,4

62.012,8

7.908,6

 

          Tỷ lệ giải ngân hàng năm (tính đến 31/12) của Bộ đạt trung bình 90%.

          2. Chỉ đạo điều hành và các giải pháp của Bộ NNPTNT

          a. Chỉ đạo điều hành.

          - Phân giao nhiệm vụ rõ ràng và quy trách nhiệm cho người đứng đầu các đơn vị.

          - Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ trách thường xuyên giao ban xây dựng cơ bản theo tháng, quý để kịp chỉ đạo, điều hành và trực tiếp đi thực địa, làm việc với địa phương, kịp thời tháo gỡ.

          - Phối hợp chặt chẽ với hệ thống chính trị địa phương về giải phóng mặt bằng (lập các tổ công tác, ban chỉ đạo, theo sát tiến độ từng công việc GPMB của tỉnh).

          - Đẩy nhanh các công trình quan trọng hoàn thành cơ bản đưa vào vận hành kịp thời chống hạn.

          - Quản lý chặt chẽ phần vốn dự phòng 10% trung hạn 2016-2020 của Bộ để hoàn thành 7 dự án từ trung hạn trước.

          - Chống tiêu cực, tham nhũng, công khai minh bạch trong quản lý xây dựng công trình, đặc biệt trong đấu thầu.

          b. Các giải pháp chủ yếu.

          - Nhận diện, phân loại các dự án theo tính chất phức tạp về kỹ thuật, phức tạp về giải phóng mặt bằng,... để tập trung các chuyên gia giỏi và phối hợp với địa phương tìm cách tháo gỡ.

          - Điều chuyển linh hoạt vốn kế hoạch trung hạn và năm giữa các dự án. Yêu cầu chủ đầu tư định kỳ phân công hợp lý khối lượng giữa các nhà thầu trong liên danh, tạo cạnh tranh tiến độ thi công.

          - Thường xuyên mở các cuộc hội thảo chuyên đề đền bù, hỗ trợ và tái định cư (GPMB), quản lý chất lượng công trình, tiến bộ kỹ thuật.  

          - Áp dụng tiến bộ mới trong xây dựng, góp phần giảm kinh phí đầu tư, rút ngắn thời gian thi công (sử dụng tro bay trong bê tông thường; vật liệu và kết cấu Neoweb gia cố mái dốc; đường ống vật liệu mới..).

          - Với dự án vướng mắc GPMB lòng hồ, yêu cầu xác định điểm dừng kỹ thuật nhằm phát huy ngay hiệu quả đầu tư và đảm bảo an toàn khi mưa lũ.

          - Lựa chọn các đơn vị giám sát, các chuyên gia có kinh nghiệm quản lý tốt chất lượng công trình và an toàn xây dựng.

          3. Kết quả thực hiện trung hạn 2016-2020

          3.1. Kết quả giải ngân vốn trung hạn.

TT

Nguồn

Số dự án

Vốn đã được TTgCP giao chi tiết

Lũy kế giải ngân đến 31/7/2020 vốn trung hạn được TTgCP giao

Giá trị

Tỷ lệ

1

Vốn NSTT

199

11.059,7

8.789

79%

2

Vốn TPCP

49

36.775,9

23.795

65%

3

Vốn ODA

40

22.085,8

19.382

88%

 

Tổng cộng

288

69.921,4

51.965

74,3%

 

          Còn 17.956 tỷ đồng (25,7%) vốn trung hạn chưa giải ngân, gồm 10.047,4 tỷ đồng sẽ giải ngân trong năm 2020 và 7.908,6 tỷ đồng sẽ giao vốn và giải ngân trong năm 2021.

          3.2. Kết quả thực hiện trung hạn.

          a) Giai đoạn 2016-2020 gồm 288 dự án, đến hết trung hạn 2016-2020 sẽ hoàn thành 231 dự án, theo nguồn vốn như sau:

          - Dự án vốn ngân sách tập trung: Hoàn thành 183/199 dự án, còn lại 16 dự án chuyển tiếp sang giai đoạn 2021-2025 (do bố trí vốn trung hạn chưa đủ)

          - Dự án ODA: Hoàn thành 27/40 dự án, còn lại 13 dự án chuyển tiếp sang giai đoạn 2021-2025 theo đúng Hiệp định.

          - Dự án vốn TPCP: Hoàn thành 46/49 dự án, 3 dự án rủi ro phải kéo dài sang trung hạn sau (Hồ Sông Chò tỉnh Khánh Hòa; Hồ Bản Mồng, tỉnh Nghệ An; Hồ Cánh Tạng, tỉnh Hòa Bình vì vướng chuyển đổi đất rừng hoặc không kịp giải phóng mặt bằng lòng hồ).

          b) Kết quả cụ thể theo các lĩnh vực:

          - Thủy lợi:

            + Quản lý chặt chẽ phần vốn dự phòng 10% trung hạn 2016-2020 của Bộ, từ đó bố trí 1.100 tỷ đồng để hoàn thành, kết thúc 7 dự án dở dang từ trung hạn trước.

            + Tiết giảm 750 tỷ đồng từ Hợp phần xây dựng do xử lý tối ưu kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, chuyển sang hỗ trợ chi trả hợp phần giải phóng mặt bằng một số công trình trọng điểm, hỗ trợ địa phương.

+ Đẩy nhanh một số công trình quan trọng, rút ngắn thời gian thực hiện, kịp thời chống hạn mặn năm 2019-2020, như đồng bằng sông Cửu Long (Âu thuyền Ninh Quới, cống Vũng Liêm, Bông Bót, Tân Dinh; Trạm bơm Xuân Hòa; 18 cống kiểm soát mặn thuộc dự án HTTL Bắc Bến Tre giai đoạn 1, Nạo vét kênh Mây Phốp – Ngã Hậu) đã trực tiếp được kiểm soát khoảng 83.000ha và tác động ảnh hưởng đến 300.000ha diện tích đất canh tác, góp phần giảm thiệt hại tối đa đến sản xuất nông nghiệp và đời sông của người dân trong khu vực;  hồ Ngàn Trươi, thủy lợi Tân Mỹ,...

           + Áp dụng đấu thầu rộng rãi, đấu qua mạng, công khai minh bạch trong đấu thầu, kết quả đã lựa chọn các nhà thầu mạnh, không xuất hiện khiếu kiện.

            + Tổng dung tích hồ đạt 1,497 tỷ m3; Diện tích tưới chủ động 80.499 ha; tạo nguồn để tưới 318.839 ha; nâng cao năng lực tiêu 402.492 ha; kiểm soát mặn, giữ ngọt cho 1,1 triệu ha; cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và công nghiệp, dịch vụ. Tu bổ khoảng 1.320 km đê, đảm bảo an toàn cho 5.482 hồ hiện có.

          - Thuỷ sản: Công suất cảng cá tăng 620 lượt tàu/ngày, hàng qua cảng tăng 55.000 tấn/năm. Công suất neo đậu tàu tăng 3.700 tàu. Cung cấp cho thị trường 1,5 tỷ giống nhuyễn thể và 7 tỷ giống tôm sạch bệnh, chất lượng cao. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng 8.820 ha;

          - Nông nghiệp: Tỷ lệ sử dụng con giống cấp tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất một số cây trồng đạt cao như Ngô đạt 95%, sắn đạt 75%; lợn 93%, bò sữa 100%,.. 82,3 nghìn ha cây trồng được áp dụng quy trình tiên tiến

          - Lâm nghiệp: Tỷ lệ che phủ rừng đạt 42%; diện tích rừng đặc dụng tăng 100.000 ha; rừng tập trung 1,1 triệu ha.

          - Khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo: Nâng cao năng lực nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ cho các Viện và đơn vị trực thuộc như trang thiết bị đào tạo, nghiên cứu, thí nghiệm tiên tiến; tăng cường cơ sở hạ tầng các đơn vị, đáp ứng kịp thời kiểm soát dịch bệnh, chất lượng sản phẩm.

          4. Tình hình thực hiện, giải ngân vốn kế hoạch 2020.

          4.1. Vốn kế hoạch năm 2020.

TT

Danh mục

Số dự án

Vốn KH 2020

Vốn 2019 kéo dài

Tổng cộng phải thực hiện, giải ngân năm 2020

Được giao

Đã phân bổ

1

DA vốn NSTT

98

12.148

2.248

304

2.552

2

DA vốn TPCP

49

9.900

1.103

11.003

3

DA vốn ODA

28

3.638,8

1.830,2

131

3.769

 

Tổng cộng

175

15.787

13.978

1.538

17.324

 

          Số vốn 17.324 tỷ đồng phải thực hiện, giải ngân năm 2020 có tính 1.808,6 tỷ đồng vốn nước ngoài kế hoạch năm 2020 Bộ đã xin trả lại do không có khả năng giải ngân.

          4.2. Các dự án vốn trái phiếu Chính phủ.

          - Có 49 dự án, trong đó 13 dự án nhóm A, 36 dự án nhóm B. Tổng kinh phí là 36.800 tỷ đồng, trong đó xây dựng là 28.422 tỷ đồng, đền bù GPMB là 8.378 tỷ đồng.

          - Vốn kế hoạch năm 2020 là 9.900 tỷ đồng, trong đó xây dựng 8.019 tỷ đồng, đền bù GPMB 1.881 tỷ đồng.

          a. Hợp phần xây dựng.

- Trong số 49 dự án: 42 dự án đang thi công; 7 dự án đã cơ bản hoàn thành và phát huy hiệu quả (Âu thuyền Ninh Quới;Trạm bơm Xuân Hòa; Nạo vét kênh Mây Phốp – Ngã Hậu; kênh Cửa Đạt; hồ Nước Trong; hồ Sông Ray và hồ Ngàn Trươi). Đảm bảo giải ngân 100% vốn kế hoạch năm 2020.

- Các khó khăn, vướng mắc trong 7 tháng đầu năm: Chủ yếu công tác GPMB.

          b. Hợp phần đền bù, di dân, tái định cư (GPMB).

          Vốn kế hoạch 2020 hiện nay là 1.881 tỷ đồng, thực tế giao đầu năm là 2.104 tỷ đồng, do GPMB giải ngân chậm nên phải chuyển 223 tỷ đồng sang hợp phần xây dựng để hỗ trợ. Hợp phần GPMB của các địa phương chậm do một số nguyên nhân sau:

          - Một số dự án có khối lượng lớn (di dân; GPMB):

          + Hồ Cánh Tạng: Diện tích GPMB 1.283 ha, di dân 652 hộ, kinh phí 1.059 tỷ đồng, đến nay chưa xong các khu tái định cư, kinh phí GPMB dự kiến tăng 460 tỷ đồng, tổng giải ngân toàn bộ mới được 450,9 tỷ đồng, đạt 45,4%.

          + Hồ Krông Pách Thượng: Diện tích GPMB 2.338 ha, di dân 724 hộ; kinh phí 1.432 tỷ đồng, tổng giải ngân toàn bộ 317 tỷ đồng, đạt 22,1%; 6 tháng đầu năm 102 tỷ, đạt 16%.

          + Hồ Bản Mồng, tỉnh Nghệ An: Lòng hồ thuộc 02 tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa (một phần của huyện Như Xuân). Thủ tướng đã giao cho UBND tỉnh Nghệ An chủ trì, phối hợp với tỉnh Thanh Hóa, nhưng khi phê duyệt không lấy ý kiến của tỉnh Thanh Hóa. Bộ rà soát phát hiện những bất cập từ năm 2018 về diện tích rừng và phương án di dân 118 hộ địa bàn Thanh Hóa nhưng đến nay tiến độ vẫn rất chậm, giải ngân 7 tháng đầu năm mới đạt 18%.

          - Một số dự án tăng kinh phí GPMB, Bộ đã phải xử lý các thủ tục báo cáo Chính phủ để tháo gỡ.

          - Chuyển đổi đất rừng, đất lúa.

c. Kết quả giải ngân từ đầu năm đến 31/7 và dự kiến cả năm.

TT

Nhóm

Vốn KH 2020

Kết quả

7 tháng

Dự kiến

9 tháng

Cả năm

Giá trị

Tỷ lệ

Giá trị

Tỷ lệ

Giá trị

Tỷ lệ

1

Hợp phần xây dựng

8.019

2.950

37%

5.310

66,2%

8.019

100%

2

Hợp phần GPMB

1.881

910

48%

1.108

59%

1.298

69%

 

Tổng cộng

9.900

3.860

39%

6.418

64,8%

9.317

94,1%

          4.3. Các dự án vốn ODA.

Thủ tướng Chính phủ đã giao vốn nước ngoài năm 2020 cho Bộ là 3.638 tỷ đồng, nhu cầu thực tế của các các dự án là 1.830 tỷ đồng, dư không có nhu cầu sử dụng là 1.808 tỷ đồng. Bộ và Bộ KH&ĐT đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ điều chuyển cho đơn vị khác.

Kết quả giải ngân 7 tháng đầu năm là 754 tỷ đồng (31,1%), trong đó vốn nước ngoài là 482 tỷ đồng (26,3%). Tuy nhiên theo số liệu của Bộ Tài chính vốn nước ngoài mới giải ngân được 246,4 tỷ đồng, đạt 6,77%. Lý do chênh lệch giữa 2 số liệu:

- Bộ Tài chính tính trên tổng số vốn kế hoạch 2020 giao là 3.638 tỷ đồng (bao gồm cả phần dư so với nhu cầu 1.808 tỷ đồng).

- Bộ Tài chính chỉ tính giá trị giải ngân trên cơ sở đơn rút vốn đã được Nhà tài trợ chấp thuận của các dự án, không tính theo kiểm soát chi của Kho bạc.

Hiện nay, sau khi có xác nhận thanh toán tại Kho bạc, Chủ đầu tư lập đơn rút vốn gửi Bộ Tài chính (để thông qua Nhà tài trợ). Giá trị này được Bộ Tài chính lấy là giải ngân. Do đó có độ trễ (vài tháng), số liệu của Bộ Tài chính rất thấp so với kiểm soát chi của Kho bạc.

          4.4. Các dự án vốn ngân sách tập trung (vốn Ngân sách Trung ương không bao gồm vốn TPCP và ODA để đầu tư xây dựng hạ tầng nông, lâm, thủy lợi, thủy sản, đào tạo, khoa học công nghệ, chương trình mục tiêu,..).

          - Tổng vốn 2020 được giao là 1.660 tỷ đồng cho 98 dự án.

          - Kết quả giải ngân 7 tháng là 416 tỷ đồng, đạt 25%, cuối năm đạt 97% vốn kế hoạch.

          4.5. Kết quả giải ngân 7 tháng đầu năm và dự kiến cả năm 2020.

            TT

Danh mục

Vốn KH 2020

Kết quả 7 tháng

Dự kiến 9 tháng

Cả năm

Giá trị

Tỷ lệ

Giá trị

Tỷ lệ

Giá trị

Tỷ lệ

1

Dự án TPCP

9.900

3.860

39,0%

6.418

64,8%

9.317

94,1%

2

Dự án ODA

2.419

754

31,1%

1.190

49,2%

2.229

92,1%

 

Vốn nước ngoài

1.830

482

26,3%

738

40,3%

1.687

92,2%

 

Vốn đối ứng

559

272

48,6%

452

76,7%

542

97%

3

Dự án NSTT

1.660

416

25,0%

813

56,4%

1.610

97%

 

Tổng cộng

13.979

5.029

36,6%

8.420

61,2%

13.156

94,1%

Ghi chú: Không bao gồm 1.808 tỷ vốn nước ngoài không có nhu cầu.

Đồng chí Nguyễn Xuân Cường - Bộ trưởng Bộ NN&PTNT báo cáo tại Hội nghị

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết, việc giải ngân vốn đầu tư công của ngành không chỉ là báo cáo tiến độ, quan trọng nhất là hiệu quả đầu tư của các dự án đó. Đặc biệt những công trình kiểm soát mặn ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long vừa qua đã được đẩy nhanh tiến độ, góp phần quan trọng trong việc kiểm soát hạn, mặn kỷ lục đầu năm. Điều này cũng góp phần quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực, nhất là trong bối cảnh dịch Covid-19.  

Tại Hội nghị, đại diện các Bộ, ngành đều đánh giá Bộ NNPTNT có tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công tương đối cao so với mặt bằng chung của cả nước; công tác phối hợp với các Bộ, ngành (đặc biệt là Bộ TMNT) và các địa phương trong giải ngân vốn đầu tư công đã có sự chuyển biến tích cực. Đại diện của Bộ Tài chính tham dự cuộc hộp cũng bổ sung làm rõ thêm cách thức lấy số liệu giải ngân vốn nước ngoài của Bộ Tài chính, đồng thời đề nghị Bộ NNPTNT tăng cường chỉ đạo các Ban Quản lý dự án khẩn trương thực hiện công tác hoàn chứng từ của tài khoản đặc biệt, đặc biệt là đối với các dự án ô, các dự án có tài khoản cấp 1, cấp 2.

Tại Hội nghị, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, ngành nông nghiệp có nhiều dự án quan trọng liên quan đến việc triển khai Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, các công trình thủy lợi bảo vệ nguồn nước ngọt, gia cố bảo vệ đê điều, hạ tầng thủy sản… Việc giải ngân vốn đầu tư công rất quan trọng, bởi đây là nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng sản xuất nông nghiệp, tạo ra cơ sở hạ tầng, tạo môi trường để huy động nguồn đầu tư cho phát triển nông nghiệp; nâng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm ngành, hiệu quả trong sản xuất.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng đánh giá cao nỗ lực của các ngành nông nghiệp trong công tác giải ngân vốn đầu tư công, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Đồng thời, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng nhấn mạnh, Bộ NN&PTNT cần tập trung tháo gỡ nút thắt, thúc đẩy giải ngân đầu tư công để đạt được mục tiêu đề ra. Bộ cần phối hợp cùng các Bộ, ngành khác để tháo gỡ khó khăn các khâu trong thủ tục đầu tư, thực hiện đầu tư, giải phóng mặt bằng, thi công xây dựng…; điều chỉnh vốn trong các công trình cho phù hợp.

Đồng thời, Bộ NN&PTNT cần kiểm soát chặt quá trình đầu tư xây dựng gắn với phòng chống dịch bệnh Covid-19 nhằm đảm bảo công trình đúng tiến độ và an toàn xây dựng, đảm bảo chất lượng công trình, chống thất thoát, lãng phí. Trong giai đoạn tới, Bộ cũng cần rà soát, xây dựng kế hoạch đầu tư cho các công trình quan trọng, cấp thiết như: điều tiết mặn ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long, neo đậu tàu cá, gia cố hồ đập, phòng chống thiên tai.

Đối với giai đoạn 2021-2023, Phó Thủ tướng Chính phủ Trình Đình Dũng yêu cầu Bộ NNPTNT phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành địa phương liên quan xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn sát trúng, hiệu quả và phù hợp đặc thù và nhu cầu của ngành.

Phạm Thị Hồng Vân