Được sự cho phép của Chính phủ tại Nghị quyết số 34/NQ-CP ngày 24/3/2020, Bộ Tài chính đã thực hiện việc sửa đổi Hiệp định hợp tác tài chính giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Áo thông qua Công hàm số 28/BTC-QLN ngày 29/4/2020 gửi Đại sứ quán Áo tại Việt Nam.
Hiệp định về hợp tác tài chính giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Áo (Hiệp định hợp tác tài chính năm 2015) được ký ngày 27/7/2015, có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2015, hết hạn hiệu lực vào ngày 1/8/2019.
Tại Hiệp định khung giữa hai Chính phủ, Chính phủ Áo cam kết tổng số vốn sẽ tài trợ cho Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn hiệu lực của Hiệp định là 135 triệu Euro. Trong giai đoạn 2015 - 2019, Chính phủ Áo đã cung cấp các khoản vay cho Chính phủ Việt Nam để thực hiện các dự án như trong lĩnh vực đường sắt và y tế với tổng số vốn cam kết tài trợ là hơn 68 triệu Euro, số vốn còn lại chưa được sử dụng khoảng hơn 66 triệu Euro.
Số tiền còn lại này được phía Áo tiếp tục gia hạn sử dụng 65 triệu EUR cho giai đoạn hiệu lực mới, đồng thời bổ sung mới 35 triệu EUR (tổng cộng 100 triệu EUR). Hiệp định hợp tác tài chính năm đã được Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ ký kết sửa đổi, bổ sung gia hạn với phía Áo phù hợp với Luật Quản lý nợ công 2017.
Như vậy, thời hạn hiệu lực của Hiệp định hợp tác tài chính năm 2015 đã được gia hạn them 2 năm (từ 1/8/2019 tới 1/8/2021) và sẽ được tự động gia hạn thêm 2 năm nữa trong trường hợp không có thông báo dừng thực hiện từ một bên tham gia ký.
Theo Hiệp định khung tài chính mới được sửa đổi, bổ sung, gia hạn, ngoài việc tăng tổng tiền tài trợ, việc mua sắm hàng hóa và dịch vụ được tài trợ từ Hiệp định khung sẽ được lựa chọn thông qua đấu thầu hạn chế giữa các nhà thầu của Áo thay vì chỉ định thầu như trước đây.
Việc gia hạn và sửa đổi Hiệp định hợp tác tài chính giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Áo nhằm tăng cường sự hợp tác tài chính, thương mại giữa hai nước, thúc đẩy các dự án đang trong quá trình xem xét đầu tư dự kiến sử dụng vốn vay Chính phủ Áo và các dự án mới sớm được triển khai, đưa vào sử dụng và đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội nói chung và nâng cao đời sống cho nhân dân các khu vực dự án.