Ở châu Âu, sự kiện tháng 07 năm 2012 với khẩu hiệu “Đồng Euro là không thể thay thế”, Chủ tịch của ECB lúc đó là ông Mario Draghi đã bác bỏ nghi ngờ về việc liệu rằng đồng Euro còn có tương lai hay không. Thông điệp của ông tới các thị trường tài chính là họ không nên nghi ngờ cam kết của ông trong việc bảo vệ một loại tiền tệ duy nhất. Khi đó, thông báo này đã phát huy tác dụng.
Mười năm sau, ECB lại trở thành tâm điểm chú ý, đồng thời hai ngân hàng trung ương lớn khác - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Anh cũng vậy. Cả ba đều phải đối mặt với cùng một vấn đề: phải làm gì với tỷ lệ lạm phát hàng năm đang ở mức 10%.
Từ ngày 21/07/2022, ECB đã tăng lãi suất lần đầu tiên sau 11 năm. Cùng thời điểm đó, Draghi một lần nữa lại đóng vai trò quan trọng với việc đe dọa từ chức Thủ tướng Ý.
Triển vọng về việc ECB giữ quan điểm cứng rắn của mình đã cảnh báo thị trường ngay trước khi một cuộc khủng hoảng chính trị ở nền kinh tế lớn thứ ba của khu vực đồng euro bùng phát. Các nhà đầu tư yêu cầu một khoản phí bảo hiểm cao hơn để tài trợ cho khoản nợ quốc gia khổng lồ của Ý, vì vậy, lợi tức (hoặc lãi suất) trên trái phiếu Ý đã tăng. Khoảng cách - hoặc chênh lệch – của trái phiếu của Ý khi so sánh với lợi suất trái phiếu của Đức có thể được dự kiến sẽ rộng hơn nữa nếu Draghi từ chức.
Điều này tạo ra một tình thế khó xử cho ECB. Một mặt, họ cam kết giải quyết lạm phát nhưng mặt khác, họ muốn giảm thiểu tác động đến Ý. Các chuyên gia nhận định rằng “Không cần biết Ý có rơi vào tình trạng hỗn loạn hay không, ECB sẽ phải tăng lãi suất trong tuần này và sẽ làm nhiều hơn nếu cần trong các cuộc họp tới đây”.
Bà Christine Lagarde, người kế nhiệm ông Draghi với tư cách là chủ tịch ECB, cho biết nhóm của Bà sẽ đưa ra một công cụ mới để bảo vệ Ý khỏi bất kỳ tác động bất lợi nào của việc tăng lãi suất và thị trường tài chính đang kỳ vọng Bà sẽ đưa ra công cụ đó trong thời gian ngắn tới.
Sự suy yếu của đồng Euro so với đô la Mỹ là vấn đề phức tạp hơn và một lý do khiến đồng tiền này giảm xuống dưới mức tương đương lần đầu tiên trong hai thập kỷ vào đầu tháng 07 này là lãi suất của Mỹ đã ở mức 1,5% -1,75% trong khi lãi suất chính của ECB bằng không.
Vì vậy, sau quyết định ở Frankfurt, sự chú ý sẽ chuyển sang Washington DC. Trong khi ECB đưa ra quyết định liệu lãi suất có nên tăng thêm 0,25% hay 0,5%, Fed đang cân nhắc xem có nên thắt chặt thêm 0,75% hay thậm chí là toàn bộ điểm phần trăm hay không.
Cho đến khi công bố dữ liệu chi phí sinh hoạt mới nhất của Hoa Kỳ, giả định ở Phố Wall là chủ tịch Fed, Jerome Powell và các đồng nghiệp của Ông sẽ lặp lại mức tăng 0,75% của tháng 6. Tuy nhiên, tin tức về việc lạm phát đã tăng lên mức cao nhất trong 40 năm là 9,1% khiến các nhà đầu tư lo ngại về một phản ứng cứng rắn hơn của Fed.
Krishna Guha, thuộc Evercore, công ty tư vấn ngân hàng đầu tư, cho biết các dấu hiệu cho thấy Fed sẽ chọn mức tăng nhỏ hơn 0,75%. “Đây vẫn là một động thái lớn và chúng tôi hy vọng Fed sẽ kiên quyết đối với lộ trình tăng lãi suất [quá trình tương lai của chi phí đi vay], nhưng việc tuân theo một chuỗi tăng ổn định hơn sẽ làm giảm nguy cơ Fed tăng lãi suất quá mức, là cần thiết để chế ngự lạm phát".
Tại Anh, hành động cân bằng khó khăn tương tự - ngăn chặn lạm phát gia tăng trong khi đồng thời tránh đưa nền kinh tế vào suy thoái - đang khiến Ngân hàng Trung ương Anh đau đầu, đây sẽ là ngân hàng trung ương cuối cùng trong số ba ngân hàng trung ương công bố quyết định chính sách của mình.
Ủy ban chính sách tiền tệ (MPC) đã tăng lãi suất trong năm cuộc họp gần đây nhất. Hiện tại họ đang giữ ở mức 1,25%/năm. Mức tăng thứ sáu gần như sẽ được thực hiện sớm trong tháng 8, với ý kiến chia rẽ về việc liệu Ngân hàng sẽ chọn tăng 0,25% hay 0,5%. Các mức này được thảo luận tại cuộc họp đầu tháng 8 của MPC.
Tỷ lệ lạm phát hàng năm của Anh đã tăng lên 9,4% vào tháng 6, được dự báo sẽ đạt 11% vào cuối năm nay, đã tăng sức ép lên mức sống tiêu chuẩn, đang đe dọa đưa nền kinh tế đi ngược. Capital Economics tin rằng Ngân hàng sẽ tiếp tục tăng lãi suất lên 3% mặc dù điều đó có nghĩa là làm như vậy sẽ tăng khả năng đưa nền kinh tế đi vào suy thoái lần đầu tiên kể từ năm 1975. Ý kiến khác lại cho rằng MPC sẽ dễ dàng hơn khi phải vật lộn với tình trạng lạm phát đình trệ như những năm 1970 và Ngân hàng sẽ ngừng tăng lãi suất khi chạm ngưỡng 1,75%.
Một thành viên MPC đã đặt ra vấn đề liệu Ngân hàng trung ương Anh, Fed và ECB có muốn mạo hiểm để tăng lãi suất quá sớm hay quá muộn hay không. Có hai điều chắc chắn: trong bất cứ trường hợp nào, việc chiến đấu với lạm phát sẽ rất tốn kém và uy tín của ba ngân hàng trên chắc chắn là cũng bị ảnh hưởng.