Phóng viên (PV): Xin ông cho biết tình hình nợ công hiện nay ra sao, có những biến động thế nào trong thời gian qua?
Ông Võ Hữu Hiển: Tận dụng điều kiện vĩ mô thuận lợi trong những năm vừa qua, Bộ Tài chính đã quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững theo đúng chủ trương của Bộ Chính trị, của Quốc hội và Chính phủ.
Cùng với thành quả củng cố tình hình tài khóa thông qua cắt giảm bội chi, kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ và siết chặt việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới, nhờ vậy, nợ công so với GDP giảm mạnh từ 63,7% năm 2016 xuống dưới 55% cuối năm 2019. So với mức trần Quốc hội cho phép là 65% GDP, thì nợ công rõ ràng đã giảm áp lực đi rất nhiều. Đây chính là dư địa tài khóa giúp nền kinh tế chống chọi được những cú sốc như đại dịch Covid-19 mà không gây ra bất ổn vĩ mô, tài chính – ngân sách và bền vững nợ công.
Đối với năm 2020, trên cơ sở kịch bản tăng trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư trình Chính phủ, Quốc hội, Bộ Tài chính đã đưa ra các kịch bản đánh giá tác động đến cân đối ngân sách nhà nước và nợ công. Với việc thực hiện quyết liệt các giải pháp điều hành, chúng tôi dự kiến trường hợp tăng trưởng GDP khoảng 4,5% thì tỷ lệ nợ công khoảng 55,5% GDP. Với trường hợp tăng trưởng GDP khoảng 3,6%, nợ công khoảng 56-57% GDP.
Như vậy, với việc bồi đắp hiệu quả dư địa tài khóa đã tích lũy trong những năm đầu giai đoạn đã đảm bảo các chỉ tiêu nợ đến cuối năm 2020 trong giới hạn an toàn được Quốc hội cho phép, góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững theo đúng chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết 07-NQ/TW ngày 18/11/2016.
Phóng viên (PV): Xin ông đánh giá về áp lực của các khoản nợ đến hạn của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn tới.
Ông Võ Hữu Hiển: Tuy gánh nặng nợ so với GDP đã suy giảm so với những năm đầu giai đoạn, xu hướng giảm nợ công một phần phản ánh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, trong đó có vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, rất chậm. Việc này một mặt hạn chế đóng góp cho tăng trưởng từ nguồn vốn vay, mặt khác ngân sách vẫn phải chịu chi phí cam kết đối với các khoản vay đã ký kết và chưa giải ngân. Mặt khác, áp lực trả nợ đang ngày càng lớn lên.
Đến nay, Việt Nam đã thành nước thu nhập trung bình, thoát ra khỏi đói nghèo. Đó là thành tựu của 30 năm đổi mới. Nhưng thách thức là Việt Nam cũng không còn được vay ưu đãi với lãi suất thấp, ngược lại sẽ phải vay thương mại với lãi suất cao hơn, kỳ hạn rút ngắn lại đáng kể so với thời kỳ trước, tiệm cận với điều kiện thị trường. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước năm 2019 ước khoảng 18,5%, cao hơn khá nhiều so với mức 15,8% cuối năm 2016.
Trong năm 2020, khả năng thu NSNN không đạt mục tiêu đặt ra sẽ gây áp lực lên chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ so với thu NSNN vốn đang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, tiến gần ngưỡng 25% được Quốc hội cho phép trong giai đoạn 2016-2020.
Đối với giai đoạn 2021-2025, Quốc hội chưa xem xét, phê duyệt mức trần cho chỉ tiêu trả nợ của Chính phủ. Tuy nhiên, việc tính toán các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm các tài khóa, dựa trên GDP đã đánh giá lại đồng nghĩa với nhu cầu huy động vốn để bù đắp bội chi NSNN có thể tăng lên rất cao khi xét về giá trị tuyệt đối. Theo phân tích của Bộ Tài chính, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ tập trung cao vào những năm đầu và cuối giai đoạn, có những năm có thể vượt ngưỡng 25%, chủ yếu do các khoản TPCP trong nước phát hành trong giai đoạn trước đáo hạn trong những năm này.
Điều này một mặt dẫn đến tình trạng dư địa ngân sách cho các khoản chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên sẽ giảm mạnh, mặt khác việc thu xếp nguồn tiền để trả nợ là điều không thể xem nhẹ, nhất là khi nhiều năm nay, chúng ta vẫn phải vay nợ mới để trả nợ cũ.