Theo quan điểm của Moody’s, vốn đầu tư FDI vào Việt Nam vẫn được duy trì ổn định trong bối cảnh đại dịch, khẳng định năng lực cạnh tranh và độ mở của kinh tế Việt Nam đối với chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực.
So với các quốc gia trong khu vực ASEAN, Việt Nam vẫn duy trì ổn định mức tăng trưởng cao nhất trong thu hút FDI.
Việc kiểm soát hiệu quả các đợt bùng phát dịch bệnh đã bảo toàn sức mạnh tài khoá, duy trì quỹ đạo nợ ổn định và tạo thêm dư địa để củng cố tài khoá. Theo đó, nợ chính phủ được dự báo giảm từ năm 2022.
So với trung vị các quốc gia có cùng hệ số tín nhiệm Ba3 với Việt Nam, khối ASEAN và các quốc gia có hệ số tín nhiệm Ba2, tỷ lệ tăng nợ/GDP của Việt Nam trong năm 2020 thấp nhất và dự báo năm 2023 mức giảm này tiếp tục được duy trì. Điều này cho thấy vị thế tài khoá vững vàng và hiệu quả của chính sách tài khoá-nợ công của Việt Nam bất chấp cú sốc đại dịch.
Việc tăng huy động từ nguồn vốn trong nước, đệm dự trữ được cải thiện và thặng dư cán cân vãng lai tiếp tục hỗ trợ mức độ dễ tổn thương với sự kiện bên ngoài thấp. Mặc dù triển vọng ở khu vực ngân hàng là tích cực khi các chỉ số chính được cải thiện, hệ thống ngân hàng vẫn tiềm ẩn rủi ro biến cố.
Theo chuyên gia kinh tế từ ADB, giống như các nước khác chỉ có việc tiêm chủng vắc-xin ngừa COVID mới có thể giúp Việt Nam vượt qua đại dịch. Bất chấp đợt bùng phát gần đây, ADB cho rằng người dân vẫn tin tưởng vào hiệu quả chống dịch của Chính phủ. Tuy nhiên, thách thức chính là việc Việt Nam còn chậm chân trong tiêm vắc-xin, có thể là thách thức đối với việc dịch chuyển lao động, gây tác động đến khu vực sản xuất và tiêu dùng nội địa. Trong thời gian tới, theo ý kiến của chuyên gia từ VinaCapital, một số thách thức đối với tiềm năng tăng trưởng xuất phát từ tính chuyển dịch của lao động và vấn đề về năng lực. Tài trợ phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một thách thức khi chưa có sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân.
Từ góc nhìn của Moody’s, các chuyên gia cho rằng tác động trong ngắn hạn đối với thu ngân sách của Việt Nam vẫn là các hạn chế, kiểm soát của Chính phủ để đối phó với các đợt bùng phát. Cải thiện về điểm số tín dụng được hỗ trợ bởi các động lực mang tính cơ cấu và không nhờ vào việc đánh giá lại GDP danh nghĩa.
Theo Moody’s, các nhân tố tác động tích cực đến hồ sơ tín dụng bao gồm hiệu quả chính sách tài khoá được duy trì; rủi ro thanh khoản được cải thiện nhờ việc huy động vốn vay trong nước để tài trợ thâm hụt tài khoá và thời hạn vay của danh mục nợ được kéo dài; minh bạch trong khu vực DNNN giúp làm giảm rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng. Việc tiếp tục duy trì thực hiện chính sách hiệu quả sẽ là nhân tố thúc đẩy nâng bậc tín nhiệm trong thời gian tới.